Sự sụp đổ của biên giới tài chính - phần 5

Buôn bán nha phiến: Trận chiến quyết định của bản vị vàng và bản vị bạc

Tàu hơi nước Nemesis của Công ty Đông Ấn Anh (hậu cảnh bên phải) đánh đắm tàu chiến Trung Quốc trong Trận Xuyên Tỵ lần hai, mùng 7 tháng 1, 1841
Tàu hơi nước Nemesis của Công ty Đông Ấn Anh (hậu cảnh bên phải) đánh đắm tàu chiến Trung Quốc trong Trận Xuyên Tỵ lần hai, mùng 7 tháng 1, 1841

Trước khi Vương quốc Anh bắt đầu triển khai buôn bán nhan phiến quy mô lớn với Trung Quốc, Trung Quốc đã chiếm được một ưu thế rõ rệt trong thương mại quốc tế. Trà thơm, gốm sứ và tơ lụa của Trung Quốc đã tạo thành một "tam giác sắt" xuất khẩu không thể phá vỡ, vượt qua tất cả các rào cản của thị trường thế giới. Vào thời điểm đó, bối cảnh thực sự của thị trường Trung Quốc là: Xuất khẩu trà của vùng duyên hải Phúc Kiến đã mang lại sự thịnh vượng chưa từng có cho nền kinh tế địa phương.

Do vị trí độc quyền trong sản xuất và chế biến, vùng Vũ Di Sơn đã trở thành "thánh địa" của các thương nhân trà từ mọi quốc gia trên thế giới. Ở các vùng trung-hạ du của sông Trường Giang, tơ và lụa là hai sản phẩm thủ công mỹ nghệ quan trọng nhất. Đội quân gồm hàng trăm ngàn chuyên gia sản phẩm và dệt lụa tơ tằm đã tạo ra các sản phẩm chất lượng cao và giàu sức cạnh tranh, họ gần như không có đối thủ trên thị trường thế giới.

Tại vùng đồng bằng Châu Giang đã hình thành nên chuỗi ngành nghề Cảnh Đức Trấn – Quảng Châu, những món đồ gốm sứ cao cấp liên tục được đưa tới các phòng khách xa hoa của giới hoàng gia và quý tộc châu Âu. Vào cuối thế kỷ XIX, Hart, một người Anh phụ trách Ty Thuế vụ Hải quan của Trung Quốc, đã viết như sau trong Trung Quốc kiến văn lục: "Trung Quốc có loại lương thực tốt nhất trên thế giới – gạo; loại thức uống ngon nhất – trà; chất liệu vải tốt nhất – lụa, tơ tằm và da thú. Họ chẳng phải tốn một xu để mua bất cứ thứ gì ở nơi khác."

Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, mức độ thị trường hóa và sự phát triển của nền kinh tế tiền tệ ở Trung Quốc kéo dài suốt 400 năm qua đã vượt xa châu Âu. Kết quả là, trong số 133.000 tấn bạc được người châu Âu khai thác ở châu Mỹ, cuối cùng đã có 48.0000 tấn được vận chuyển sang Trung Quốc. Cấu trúc cơ bản của thương mại quốc tế khi đó là Trung Quốc đã sáng tạo nên một phần chủ yếu của hàng hóa thương mại thế giới, còn phương Tây đã cướp đi một phần chủ yếu tài nguyên của thế giới. Trong quá trình bạc chảy từ phương Tây sang phương Đông, nó cũng đi kèm với việc hàng hóa Trung Quốc cuồn cuộn chảy về phía Tây.

Dòng chảy bạc liên tục về phía Đông đã gây ra sự mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân tài chính thế giới.

Do xuất khẩu ròng bạc sang Trung Quốc suốt thời gian dài nên đến cuối thế kỷ XVII, tình trạng thiếu hụt bạc và sụt giảm giá chung đã xảy ra ở châu Âu, đồng thời quy mô thương mại bắt đầu bị thu hẹp. Từ năm 1649 đến năm 1694, lượng bạc lưu thông trung bình hằng năm ở châu Âu giảm mạnh, ít hơn 50% so với lượng vàng lưu thông trung bình hằng năm trong giai đoạn 1558-1649, trong khi lượng vàng lưu thông tăng gần 50%.

Lượng lưu thông bạc giảm là việc có thể hiểu được, nhưng tại sao lượng lưu thông vàng lại tăng lên?

Thì ra vào đầu thế kỷ XVII, tỉ giá vàng và bạc ở Quảng Châu, Trung Quốc là 1:5,5 – 1:7, trong khi đó tỉ giá của Anh là 1:16, chuyển bạc sang Trung Quốc không chỉ có thể đổi được một số lượng lớn hàng hóa có lợi nhuận cao, mà còn có thể hưởng mức chênh lệch giá vàng-bạc gấp đôi, dùng bạc rẻ để đổi lấy vàng đắt ở Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Ngay cả John Locke cũng từng phàn nàn: "Tôi được thông báo rằng (công ty Đông Ấn) nhập khẩu (vàng) từ một số vùng của Ấn Độ và hưởng lợi nhuận từ 50% trở lên. Nhưng của cải thực sự của Anh đã bị chôn vùi ở Ấn Độ Dương. Bây giờ là lúc để mọi người nói ra sự thật một cách thẳng thắn, tại sao chúng ta phải đối mặt với tình trạng thiếu bạc chưa từng có trong thời đại này."

Sau khi một lượng lớn vàng được đổ vào Vương quốc Anh, bằng các khoản hối lộ lớn, những chủ ngân hàng đã được thông qua Dự luật tự do đúc tiền năm 1666. Về thực chất, dự luật này là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiền tệ. Nó đã "thay đổi hệ thống tiền tệ của thế giới và tác dụng cụ thể của nó là xóa bỏ sự độc quyền của nhà vua trong việc phát hành tiền tệ". Dự luật quy định rằng bất kỳ ai cũng có quyền đem vàng thỏi đến các xưởng đúc tiền và yêu cầu đúc tiền vàng một cách hợp pháp và miễn phí.

Dự luật này về cơ bản đã phục vụ cho lợi ích của các chủ ngân hàng sở hữu vàng thỏi và các nhà tư bản thương mại – những người sẽ có quyền kiểm soát thực tế đối với cung ứng tiền. Với việc nắm trong tay một lượng lớn vàng (thực thể), họ sẽ có thể quyết định nguồn cung tiền dựa trên lợi ích của chính mình. Khi đóng vai trò chủ nợ thì họ sẽ giảm số lượng tiền đúc, tạo hiệu ứng giảm phát và khiến cho hàm lượng vàng trong các khoản nợ tăng cao. Khi họ là con nợ, họ có thể tăng nguồn cung tiền và sử dụng hiệu ứng lạm phát để bù đắp cho những khoản nợ mà họ đang gánh. Đây là lần đầu tiên ở phương Tây, quyền phát hành tiền tệ của chính phủ đã được chuyển giao một cách thực chất cho tư nhân. Kể từ đó, cơ sở pháp lý cho quyền phát hành tiền tệ của các ngân hàng tư nhân đã được đặt ra. Cánh cửa để kiểm soát sự phân phối của cải bằng cách kiểm soát nguồn cung tiền của một quốc gia hoặc cả thế giới đã được mở ra.

Tại thời điểm này, một câu nói nổi tiếng của Rothschild vang lên trong tai tôi: "Miễn là tôi kiểm soát được việc phát hành tiền tệ của một quốc gia, tôi sẽ chẳng quan tâm ai là người đưa ra luật."

Trong mắt các chủ ngân hàng, kiểm soát tiền tệ là một cuộc đấu tranh lớn, kiểm soát việc phát hành và phân phối tiền tệ là để kiểm soát sự giàu có, tài nguyên và toàn nhân loại. Nếu muốn kiểm soát thể giới, trước tiên bạn phải chinh phục tiền tệ, nếu muốn chinh phục tiền tệ, trước tiên bạn phải chinh phục vàng, và nếu muốn chính phục vàng, trước tiên bạn phải chinh phục bạc.

Trong quá trình bạc của châu Âu đi về phía Đông, thì vàng của châu Á cũng trên đường Tây tiến. Thời gian cứ thế trôi qua, kết quả cuối cùng là Anh tích trữ vàng còn Trung Quốc thì hấp thụ bạc. Cốt lõi của vấn đề là liệu vàng hay bạc cuối cùng sẽ trở thành bá chủ tiền tệ của thế giới. Điều này sẽ can hệ đến sự hưng-suy hàng trăm năm của phương Đông và phương Tây!

Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, sức mạnh quốc gia của Đế quốc Anh đã tăng lên chưa từng thấy và các điều kiện để thiết lập một loại tiền tệ với bản vị là vàng đã được đáp ứng đầy đủ vào năm 1717. Mặc dù việc thiết lập cuối cùng của bản bị vàng mãi tới năm 1816 mới được hoàn thành một cách danh chính ngôn thuận tại Anh, nhưng trên thực tế Anh đã sử dụng bản vị vàng trong 100 năm trước đó rồi.

Đối với các chủ ngân hàng của Đế chế Anh, mục tiêu chiến lược cao nhất của họ là biến London thành trung tâm tài chính và biến vàng thành một loại bản vị tiền tệ chung của thế giới. Đế quốc Anh đã tiến hành xuất khẩu tín dụng bằng đồng bảng Anh ra thế giới thông qua Ngân hàng Anh. Họ biến các nước lớn ở châu Âu và châu Mỹ thành các thành viên cốt lõi sử dụng bản vị vàng. Các thành viên cốt lõi này sẽ biến các quốc gia lạc hậu trên thế giới thành những khu vực phụ thuộc của đồng bảng Anh. Họ sử dụng chiến tranh và bạo lực để duy trì sự vận hành của hệ thống này, sử dụng tiền tệ để kiểm soát và huy động các nguồn lực toàn cầu đến mức tối đa, và cuối cùng là kiểm soát hoàn toàn của cải thế giới và nhân loại!

Để thiết lập quyền bá chủ tiền tệ thế giới của đồng bảng Anh và bản vị vàng thì trước tiên phải đánh bại các quốc gia sử dụng bản vị bạc. Trong số đó, quốc gia lớn nhất và khó bề đối phó nhất chính là Trung Quốc.

Sau nhiều năm thử nghiệm, các chủ ngân hàng quốc tế cuối cùng đã chọn nha phiến làm vũ khí chống lại bản vị bạc của Trung Quốc.

Và tổ chức đặc biệt chịu trách nhiệm thực hiện chiến lược này là công ty Đông Ấn.

Trích "Chương 1, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét