QUYỀN LỰC THIÊN HOÀNG CHIẾN THẮNG QUYỀN LỰC TÀI CHÍNH
![]() |
| Thiên Hoàng Hirohito |
Ngay từ đầu, Hirohito đã là một vị Thiên Hoàng có định hướng hành động hết sức mạnh mẽ, nhưng nghịch lý thay, ấn tượng mà ông gieo vào đầu thế nhân lại là một vị quân vương theo hình mẫu bị động. Cả thế giới đều tin rằng trong quá trình ra quyết định, ông không phát huy bất cứ một vai trò cá nhân mang tính quyết định nào, họ kiên quyết khẳng định rằng ông là một người bất tài, hữu danh vô thực, thiếu trí tuệ và thiếu cả lý trí. Thực tế là ông anh minh hơn, giảo hoạt hơn và mạnh mẽ hơn so với hầu hết các đánh giá đó. Từ những câu nói và hành động hết sức thận trọng, kín kẽ của ông, người ta có thể nhận ra được những ý nghĩa thâm sâu hơn hẳn so với những điều mà ông đã nói và làm. Trong 22 năm đầu tiên cầm quyền, ông đã phát huy được một tầm ảnh hưởng sâu rộng.
Bối cảnh xâm lược và bành trướng của Thiên Hoàng Hirohito rất giống với Đức. Cả hai đều hoàn toàn lũng đoạn về kinh tế; trong truyền thống văn hóa họ đều yêu thích vũ lực, tôn trọng quyền uy, tôn thờ trật tự và cần cù siêng năng. Điều này phản ánh sâu sắc sự tự phụ của họ về các giá trị độc đáo và sự phẫn nộ đối với sự thiếu tôn trọng. Về mặt chính trị, mô hình của hiến pháp năm 1889 của Nhật Bản chính là hiến pháp Đức của Bismarck. Mặc dù hai nước đều theo thể chế lập hiến, nhưng quyền lực thực sự đằng sau quốc hội là liên minh của quân đội, địa chủ và tư bản. Sự khác biệt lớn duy nhất giữa hai nước là sức mạnh công nghiệp. Nhật Bản là một quốc gia thực sự thiếu tài nguyên, thiếu than, quặng sắt, dầu mỏ, vật liệu hợp kim, tài nguyên thủy lực, và thậm chí cả thực phẩm. Còn Đức chỉ sử dụng điều đó để tuyên truyền mà thôi.
Việc thiếu thốn tài nguyên đã hình thành mâu thuẫn mạnh mẽ đối với bối cảnh dân số ngày càng tăng nhanh sau công cuộc Duy Tân Meiji ở Nhật Bản. Dân số Nhật Bản tăng từ khoảng 30 triệu vào năm 1873 lên 70 triệu vào năm 1939. Người Nhật muốn phỏng theo mô hình di dân ra bên ngoài của châu Âu ngày trước để giải quyết vấn đề dân số, thế nhưng hầu hết các thuộc địa trên thế giới đã bị các nước châu Âu và châu Mỹ chia chác xong xuôi. Đồng thời, Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga và các nước khác đều rất cảnh giác và bất an đối với sự bành trướng của Nhật Bản. Năm 1921, Anh từ chối khôi phục liên minh Anh-Nhật. Năm 1922, Toà án Tối cao Mỹ tuyên bố người Nhật không đủ tư cách nhập tịch. Những điều này đã làm tổn thương lòng tự trọng và niềm tự hào của người dân Nhật Bản, và làm gia tăng sự thù địch của Nhật Bản đối với Anh và Mỹ. Họ đã sử dụng sự bành trướng vũ lực để giải quyết các xung đột trong nước.
Dưới tác động của suy thoái kinh tế thế giới và khủng hoảng tài chính vào những năm 30 của thế kỷ XX, cả Nhật Bản và Đức đều theo đuổi chính sách đàn áp nội bộ, xâm lược và bành trướng bên ngoài, thiết lập sự cai trị phát-xít để vượt qua khủng hoảng bằng cách tăng chi tiêu quốc phòng và tiến hành quân sự hóa nền kinh tế quốc gia.
Ở Đức, do sự sụp đổ của quyền lực hoàng đế, việc thay thế quyền lực chính trị được thực hiện từ dưới lên thông qua các cuộc bầu cử.
Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế càn quét thế giới đã nổ ra và nền kinh tế Đức lao dốc không phanh. Năm 1930, số người thất nghiệp của Đức lên tới 2 triệu, và năm 1932 đã tăng vọt lên 6 triệu. Đảng Quốc xã đã ngay lập tức nắm bắt cơ hội lịch sử này, đổ lỗi cho Hiệp ước Versailles và bồi thường chiến tranh gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế Đức, chỉ trích rằng chính sự yếu kém, nhu nhược của chính phủ đã khiến cho cuộc sống người dân rơi vào khổ ải. Suy thoái kinh tế và bất ổn xã hội đã khiến người Đức hoàn toàn mất niềm tin vào Cộng hòa Weimar, chuyển sang ủng hộ Đức Quốc xã trở thành chính đảng lớn nhất trong quốc hộ, và Hitler lên nắm quyền.
Rất nhiều người lầm tưởng rằng chế độ Đức Quốc xã là một chế độ độc tài, sở hữu tất cả các quyền lực vận hành xã hội, có thể kiểm soát tất cả các nguồn lực xã hội theo ý muốn và Hitler có thể quyết định số phận của tất cả mọi người. Trên thực tế, Hitler, với tư cách là một chính khách, phải dựa vào sự hợp tác của bốn nền tảng quyền lực lớn nhất trong xã hội Đức thì mới có thể điều hành chính phủ.
Nền tảng của sức mạnh xã hội Đức thời đó bao gồm các nhà tư bản công nghiệp, quân đội, giai cấp quan liêu và giai cấp địa chủ Junker. Hitler bảo vệ lợi ích của tầng lớp địa chủ Junker và nhận được sự hỗ trợ của họ thông qua một loạt các biện pháp như bảo đảm lợi nhuận nông sản, điều chỉnh tiền lương của nông dân, giảm lãi vay và thuế, miễn bảo hiểm thất nghiệp.
Do trong lịch sử, thế lực quân sự với nhóm sĩ quan Phổ là nòng cốt có nguồn gốc sâu xa với tầng lớp địa chủ Junker, tầng lớp tinh anh của nhóm sĩ quan Phổ đều xuất thân từ lớp địa chủ Junker. Bảo vệ giai cấp địa chủ Junker cho phép Hitler giành được sự ủng hộ của quân đội.
Bằng cách yêu cầu những người Do Thái thuộc giai cấp quan liêu và các nhân sĩ chống phát-xít phải nghỉ hưu sớm, nhiều đảng viên Đức Quốc xã đã trở thành công chức, củng cố thế lực của Đức Quốc xã.
Các nhà tư bản gia tăng quyền lực đáng kể sau khi Đức Quốc xã lên nắm quyền. Những người thuộc tầng lớp này đã không được tổ chức trên quy mô lớn, họ cũng không bị kiểm soát và hạn chế theo nguyên tắc trung thành với một nhà lãnh đạo nhất định. Chính phủ Đức Quốc xã về cơ bản không can thiệp vào hoạt động tự do của công nghiệp và thương mại, bên cạnh đó, ngoài tình trạng khẩn cấp của chiến tranh, đảng Quốc xã không có nhiều quyền kiểm soát đối với các nhà tư bản công nghiệp nói chung.
Quan điểm truyền thống cho rằng, Đức Quốc xã đã thực hiện một hệ thống chính trị gồm chủ nghĩa tư bản nhà nước và chế độ độc tài toàn diện. Trên thực tế, cách hiểu này là không chính xác, bởi vì vào thời điểm đó Đức không thực sự thiết lập một mô hình tổ chức như vậy. Cần phải nói rằng, hệ thống này của Đức Quốc xã là một chủ nghĩa tư bản độc đoán, nhưng không phải là chủ nghĩa tư bản độc tài. Đặc điểm chính của nó là tiến hành tổ chức một cách hiệu quả toàn bộ xã hội. Trong điều kiện như vậy, các hành vi xã hội và việc huy động những nguồn lực khác nhau là để thỏa mãn mục đích theo đuổi lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản.
Sự khác biệt lớn nhất giữa Nhật Bản và Đức là đế chế hoàng quyền (quyền lực của hoàng đế). Nhật Bản không dựa vào các đảng chính trị và đại tuyển cử để kiểm soát chính phủ. Thay vào đó, Nhật Bản dựa vào phương thức từ trên xuống, do hoàng đế và thế lực quân đội hùng mạnh nắm quyền chủ đạo, dựa vào việc lên kế hoạch cho hàng loạt sự kiện khủng bố như ám sát, đảo chính, phát động những cuộc chiến tranh xâm lược để mở rộng ảnh hưởng và thế lực cua mình, và thiết lập một chế độ độc tài phát-xít quân sự.
"Chế độ quân chủ lập hiến" của Nhật Bản là một hệ thống lập pháp với quân vương là chủ thể, hiến pháp chỉ là phương tiện để quân vương quản lý đất nước, chứ không phải là một chế ước đối với quân vương. Ngược lại, hiến pháp không chỉ phải bảo vệ, mà còn chỉ định một cơ chế rõ ràng để quyền lực của Thiên Hoàng sẽ không bị hạn chế dưới bất kỳ hình thức nào. Thiên Hoàng sẽ bổ nhiệm các bộ trưởng nội các, và quan chức các cấp phải trung thành với Thiên Hoàng. Thiên Hoàng là "đại nguyên soái" của quân đội, sẽ trực tiếp thống soái và chỉ huy quân đội, chính phủ và quốc hội không được phép can thiệp. Thiên Hoàng có thể triệu tập hoặc giải tán quốc hội, có thể ban bố chiếu thư thay thế luật pháp, và quốc hội chỉ có tác dụng hỗ trợ và tư vấn cho hoàng đế. Có thể thấy rằng Thiên Hoàng có nhiều quyền lực hơn hẳn Hitler, được pháp luật quy định rõ ràng. Tất nhiên, pháp luật là pháp luật, quyền lực thực tế của Thiên Hoàng vẫn phụ thuộc vào ván bài với giới tài phiệt, các đảng chính trị và quân đội. Quyền lực của Thiên Hoàng Taisho và quyền lực của Thiên Hoàng Meiji là rất khác biệt.
Dựa trên nền tảng chính trị sau công cuộc Duy Tân Meiji tập đoàn quyền lực quân đội Nhật Bản trải qua các cuộc chiến tranh với nước ngoài như Chiến tranh Giáp Ngọ và Chiến tranh Nga-Nhật, đã trở thành trung tâm quyền lực của chính phủ và chiếm giữ một vị trí chính trị đặc biệt. Có hai trụ cột chính của sức mạnh quân sự. Đầu tiên là tham chiếu theo nước Đức, thực hiện các nguyên tắc "đại quyền phân lập" giữa quân chính quân lệnh và quyền thống soái độc lập, điều này đã củng cố tối đa vị thế chính trị của quân đội. Thứ hai, luật pháp Nhật Bản quy định rõ rằng bộ trưởng lục quân và hải quân trong nội các phải do các quân nhân tại ngũ đảm nhận, điều đó cũng thiết lập cơ sở pháp lý cho việc quân đội can dự vào các vấn đề chính trị, nếu quân đội phản đối thì nội các chắc chắn sẽ sụp đổ. "Quân lệnh" ban hành năm 1907 cho thấy rõ rằng các vấn đề liên quan đến quyền thống soái chỉ cần có được sự đồng ý của bộ trưởng quân sự, và bỏ qua thủ tướng. Chế độ này khiến cho các đảng chính trị và chính phủ không thể nhúng tay can thiệp vào quyền lực quân sự, nhưng bộ quân sự có thể cử các sĩ quan làm bộ trưởng nội các theo ý muốn của quân đội để trực tiếp thao túng các vấn đề nhà nước và kiểm soát sự sống còn của nội các. Giống như trong "Cuộc đảo chính Taisho", sự từ chức của Bộ trưởng Lục quân đã dễ dàng hạ bệ nội các của Saionji Kinmochi, nơi đang khiến cho quân đội bất mãn.
Trong thời kỳ Duy Tân Meiji, mục tiêu của đất nước là xây dựng Nhật Bản thành một quốc gia công nghiệp hóa trong một thế hệ. Tuy nhiên nhật Bản có nền tảng yếu và khởi đầu muộn, thế nên cách duy nhất là chính phủ chỉ đường dẫn lối, dốc toàn bộ sức mạnh để phát triển nền kinh tế. Bằng cách này, Nhật Bản đã hình thành một số doanh nghiệp độc quyền khổng lồ có mối liên hệ chặt chẽ với chính phủ. Lợi ích của nhà tư bản độc quyền thường được kết hợp với lợi ích quốc gia. Các nhà tư bản thường sử dụng thái độ hợp tác để thực hiện các chính sách quốc gia.
Ngay từ đầu, hoạt động chính trị của các chính đảng Nhật Bản đã dựa vào chế độ "Nguyên lão tiến cử người tài". Để thành công trong việc thành lập nội các, một đảng chính trị cần phải vượt qua hai trở ngại sau: thứ nhất là sự tiến cử của các nguyên lão, và thứ hai là chiến thắng trong cuộc bầu cử. Thay vì cố gắng giành được sự ủng hộ của cử tri thông qua cương lĩnh và tuyên truyền của riêng mình, các đảng chính trị cố gắng tìm cách để giành được sự ủng hộ của các nguyên lão. Khi những nguyên lão lần lượt rút lui, nội các chính đảng vốn thiếu sự căn cơ của dân chúng và cương lĩnh chính trị thường sẽ tỏ ra hết sức yếu thế khi đối diện với những hành động cứng rắn của phe quân đội.
Thiên Hoàng dưới sự bảo vệ mạnh mẽ từ hiến pháp và quân đội, sự hợp tác lỏng lẻo giữa các nhà tư bản và các đảng chính trị yếu, tất cả những yếu tố này đã làm cho con đường chế độ độc tài quân phiệt của Thiên Hoàng thuận lợi hơn rất nhiều so với Hitler.
Hirohito cũng chứng minh cho cả thế giới thấy rằng ông tài giỏi hơn Hitler, đó là khả năng kiểm soát và lôi kéo các thần dân trong xã hội. Những người đó bao gồm các sĩ quân cấp dưới, giai cấp Ronin và nông dân. Một khi các bộ trưởng nội các hoặc các sĩ quan cao cấp trong quân đội không tuân theo mệnh lệnh, ông sẽ trực tiếp huy động các sĩ quan cấp dưới và dân chúng để hoàn thành ý chí của Thiên Hoàng theo cách "hạ khắc thượng".
Với sự giúp đỡ của giới hoàng thất tông thân, Hirohito đã bắt đầu bồi dưỡng các sĩ quan trẻ và quan chức từ rất sớm. Đầu năm 1921 khi đi du lịch ở châu Âu, ông đã tiếp kiến các sĩ quan trẻ của Nhật Bản để có được lòng trung thành của họ. Sau đó, họ đã thành lập một tổ chức để Hirohito thách thức thế lực của các nguyên lão trong quân đội mang tên "11 thân tín Baden-Baden", trong đó Nakaji Murakami, Hideki Tojo và Kenji Totohara là những nhân vật nòng cốt trong sự bành trướng quân sự của Nhật Bản.
Hirohito đã thành lập một trung tâm giảng dạy trong cung điện để kiểm soát và đào tạo sĩ quan và quan chức trẻ tuổi. Đối với các sĩ quan cấp dưới và quan chức "lần đầu ra khỏi lều cỏ", được lắng nghe và thảo luận trong hoàng cung thần thánh thực sự là một vinh dự cực lớn. Những người từng học ở đây rất hiếm khi phản bội Thiên Hoàng. Tình bạn giữa các đồng liêu sẽ xuyên suốt trong cả cuộc đời của họ. Sau Thế chiến II, liên minh của họ đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong lĩnh vực chính trị của Nhật Bản.
Okawa Akira, tiến sĩ triết học tại Đại học Tokyo, đã được chỉ định làm Học giám của Đại học liêu – trung tâm giảng dạy của Hirohito. Ông đã làm việc nhiều năm với những thân tín của Hirohito. Xung quang ông là những kẻ cuồng tín chủ nghĩa Pan-Asian, gián điệp và các phần tử theo chủ nghĩa dân tộc đại diện cho tất cả các tầng lớp. Ông được biết đến như là "cha đỡ đầu tinh thần của chủ nghĩa quân phiệt" và "Goebbels của Nhật Bản", là một nhân vật tài cán, rất biết cách xoay vần giữa hai dòng trắng-đen.
Dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Okawa, các khóa học của Đại học liêu đã bổ sung nhiều "chủ nghĩa" mà ông cho rằng hữu ích. Tư tưởng Nho giáo, phát triển vũ khí, xây dựng kế hoạch khẩn cấp, cải tổ lục quân và lý thuyết địa chính trị. Cố vấn hàng đầu của Thiên Hoàng đã tiến hành một khóa học liên quan đến địa vị của Thiên Hoàng, giải thích các chức trách của hoàng gia, vai trò của những chức trách này trong việc điều tiết sự khác biệt ý kiến giữa Thiên Hoàng và những thân tín trung thành của ông, và sự cần thiết của việc tuyệt đối không được để công chúng và dư luận làm vấy bẩn danh dự của Thiên Hoàng.
Những giáo viên từng được mời tới giảng thậm chí còn có cả các viên chức của hệ thống chuẩn quân sự, như cảnh sát mật, gián điệp kinh doanh, chuyên gia thẩm vấn,… - những nhân vật lão luyện đã chiến đấu trong chiến tuyến đầu tiên của công cuộc "xây dựng chủ nghĩa phát-xít".
Ngoài việc bồi dưỡng nhân tài, Thiên Hoàng còn ủng hộ việc lôi kéo các băng đảng và những tổ chức phát-xít, như Hắc Long hội và Huyết minh đoàn, để họ sử dụng các vụ ám sát và đảo chính để gây xôn xao dư luận và thanh trừng phe đối lập.
Được thành lập vào năm 1901, Hắc Long hội là trung tâm của phòng trào dân tộc Nhật Bản và là đại bản doanh của giai cấp Ronin Nhật Bản. Thế lực của nó lớn hơn bất kỳ đoàn thể nào khác. Vào thời điểm đó, khi nội các Nhật Bản được thành lập, nếu không có sự đồng ý của Toyama – bang chủ Hắc Long hội thì chẳng ai có thể nhận chức. Hắc Long hội cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong Chiến tranh Giáp Ngọ và Chiến tranh Nga-Nhật. Sau đó sự hợp tá giữa họ với quân đội Nhật Bản ngày càng trở nên gần gũi, thậm chí còn từng phối hợp với quân đội để xâm lược Trung Quốc và phát động Chiến tranh Thái Bình Dương.
Huyết minh đoàn là một tổ chức khủng bố cánh hữu ở Nhật Bản. Nó được khởi xướng bởi nhà sư theo chủ nghĩa phát-xít – Nissho Inoue, thành viên chủ yếu là sinh viên và thanh niên nông thôn. Nissho Inoue từng thực hiện các hoạt động gián điệp ở Trung Quốc, ông trở về Nhật Bản cùng với người bạn cũ của mình là Tiến sĩ Okawa vào những năm 1920. Ông và các môn đệ của mình đã tiến hành các hoạt động ám sát để lật đổ các đảng phát chính trị, thế lực tài phiệt và tầng lớp đặc quyền để thực hiện chế độ phát-xít "quân dân cộng trị (vua và dân cùng trị quốc)" ở Nhật Bản. Bộ trưởng Tài chính Junnosuke Inoue và Chủ tịch Mitsui Dan Takuma – hai nhân vật dính líu đến cái bẫy "kiếm lời chênh lệch đô-la" đều đã chết dưới họng súng của Huyết minh đoàn.
Nhờ sự ngấm ngầm phối hợp của các tổ chức này, chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi, Thiên Hoàng đã sử dụng chiêu thức "càn khôn đại na di" để thao túng chính trị Nhật Bản từ hậu trường, liên tục sử dụng những âm mưu, thủ đoạn ám sát và chiến tranh để đánh gục hoàn toàn thế lực chính đảng, khiến cho các nhà tư bản tài phiệt phải cúi đầu, cộng đồng quốc tế im lặng và nắm chặt quyền lực hoàng đế ở trong tay mình. Có thể nói thành tựu của ông đã vượt xa Taisho, bắt kịp Meiji.
"Và như vậy, màn thí nghiệm của chính phủ dân cử Nhật Bản đã thực sự kết thúc. Việc Inukai Tsuyoshi bị sát hại đã khiến cho Rikken Seiyukai hoàn toàn biến mất. Trong 13 năm tiếp theo, mặc dù người Nhật vẫn tiếp tục bỏ phiếu định kỳ, nhưng những lá phiếu của họ chẳng có bất cứ nghĩa lý gì – cùng lắm là chỉ có tiếng nói với các vấn đề đã được công khai và bày tỏ một số quan điểm không thực tế mà thôi. Trong những tháng ngày sau đó, vì các thế lực tài phiệt đã cam tâm tình nguyện trở thành một bánh răng trong toàn bộ cỗ máy "chỉnh quân thượng võ" của đất nước. Thế nên sự kháng cự duy nhất mà Hirohito có thể gặp phải trong quá trình kế thừa kế hoạch quân sự từ tổ tiên của mình chính là "các phần tử chủ nghĩa quân phiệt" đến từ lục quân.
"Khi quả lựu đạn cuối cùng phát nổ, làn khói mù dần dần biến mất, chiếc taxi cuối cùng đã dừng lại trước một tòa nhà bí mật của cảnh sát, sau khi màn hư trương thanh thế vô tội vạ cuối cùng của Saionji Kinmochi bị Hirohito thẳng tay trấn áp. Một năm sau đó, khi Hitler lên nắm quyền, ông ta phải hạ lệnh ám sát 51 kẻ thù chính trị của mình và phóng hỏa thiêu rụi Quốc hội Đức.
Sau cuộc đại chính biến mang tên "tam trung âm mưu" của Hirohito, người đời vẫn chưa hề nhận thức được một điều rằng – ông vẫn là một nhân vật thần bí được che đậy tài tình bên dưới những phép tắc giới luật. Ông vẫn hoàn toàn là điển phạm của một chính nhân quân tử. Ông đã tận dụng được lợi thế của một vị Thiên Hoàng, và có thể dựa vào kho tàng kinh nghiệm âm mưu lọc lõi suốt hàng chục năm qua."
Ngày 26 tháng 2 năm 1936, khi hơn 1.000 sĩ quan và binh sĩ cấp thấp của Nhật Bản hò hét đòi lật đổ thế lực tài phiệt thống trị, đả đảo giới quan chức và chính trị gia tham ô hủ bại, sau đó gây bạo lực ở Tokyo, cuộc binh biến chấn động thế giới "ngày 26 tháng 2" đã chính thức đánh gục hoàn toàn các thế lực dám chống đối Thiên Hoàng.
Saionji Kinmochi vốn dĩ nằm trong danh sách những người sẽ bị ám sát, nhưng cuối cùng binh lính đảo chính "bất ngờ nhân từ" và tha cho ông. Lúc này Saionji Kinmochi hoàn toàn hiểu ra rằng đây là lời cảnh báo nghiêm khắc nhất từ đấng tối cao. Ông căn bản không phải là đối thủ của Thiên Hoàng Hirohito. Chính phủ hiến pháp không thể hạn chế được Thiên Hoàng, và quyền lực tài chính cũng khó mà chiến thắng được Thiên Hoàng.
Kể từ đó, Nhật bản đã mở chiếc hộp Pandora của đại chiến thế giới.

Nhận xét
Đăng nhận xét