NAM KINH – GIẤC MỘNG VỤNG VỠ - phần 3

QUỸ BÌNH ỔN NGOẠI HỐI: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG THỨ HAI

Sau nhiều nỗ lực, đến tháng 3 năm 1939, chính phủ Trung Quốc và Anh cuối cùng đã đạt được thỏa thuận. Về phía Trung Quốc, Ngân hàng Trung Quốc sẽ đóng góp 3,25 triệu bảng Anh, Ngân hàng Giao thông góp 1,75 triệu bảng Anh, về phía Anh gồm Ngân hàng Hội Phong đóng góp 3 triệu bảng Anh, Ngân hàng Standard Chartered đóng gió 2 triệu bảng Anh, Tổng cộng 10 triệu bảng Anh (khoảng 50 triệu đô-la, 1 tỷ đồng tiền pháp định), tạo thành "Quỹ bình ổn Trung-Anh". Tất cả số tiền bảng Anh sẽ được gửi vào tài khoản của chính phủ Trung Quốc trong Ngân hàng Anh, và "Ủy ban Quỹ bình ổn ngoại hối Trung-Anh" sẽ được thành lập để can thiệp vào thị trường ngoại hối và toàn quyền thao tác nhằm bình ổn giá trị tiền pháp định.

Tuy nhiên, thứ mà quỹ bình ổn 10 triệu bảng Anh đang phải đối mặt là một cuộc chiến hiện đại quy mô, sự tàn phá của chiến tranh, sự khan hiếm cực độ nguồn cung, tình trạng lạm phát ồ ạt, sử dụng tiền giả để đầu cơ ngoại hối, cùng với việc "tát nước theo mưa" của những kẻ đầu cơ, quỹ bình ổn trị giá 10 triệu bảng đã nhanh chóng không thể chống đỡ nổi. Đến cuối tháng 5 năm 1939, tức chỉ hai tháng sau khi quỹ bình ổn hoạt động, 2/3 lượng bảng Anh của quỹ đã cạn kiệt. Bên cạnh đó khi đối mặt với "cỗ máy xay" tài sản khủng khiếp mang tên chiến tranh, và tình trạng nguồn vốn bằng tiền pháp định đang chạy trốn điên cuồng, quỹ bình ổn căn bản không thể chống đỡ nổi. Đến trung tuần tháng 7, quỹ bình ổn đã hoàn toàn trống rỗng! Dự trữ ngoại hối của chính phủ quốc dân cũng giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi chiến tranh chống Nhật toàn diện bùng nổ, và tiết kiệm ngoại hối của ngân hàng trung ương chỉ là 25 triệu đô-la.

Trước tình trạng khẩn cấp, ủy ban quỹ bình ổn đã bất đắc dĩ phải đình chỉ việc bán ngoại hối tới hai lần, kéo theo việc tiền pháp định đã bị mất giá đáng kể. Đến tháng 10 năm 1939, 1 đồng tiền pháp định đã giảm xuống mức thấp nhất lịch sử là 4 pence.

Tại thời điểm này, người Mỹ đã "xuất chiêu".

Tháng 7 năm 1939, Arthur Young – cố vấn người Mỹ tại Bộ Tài chính của chính phủ quốc dân, đã thông báo cho Đại sứ quán Mỹ: "Trong ba ngày qua, mức độ tiêu hao của quỹ bình ổn là rất bất thường, khoảng một nửa trong số đó được công ty American Express và Ngân hàng Mỹ (Citibank) mua lại." Ngay cả Khổng Tường Hy, người luôn có mối quan hệ gần gũi với Mỹ, cũng rất tức giận. Ông đã trực tiếp gọi cho Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 18 tháng 7: "Tình hình ngoại hối ngày càng trở nên nghiêm trọng, quỹ bình ổn hiện chẳng còn lại bao nhiêu. Lượng ngoại hối bán ra trong những ngày gần đây, đại đa số được các doanh nghiệp nước ngoài mua lại. Theo các báo cáo nhận được, một phần đáng kể trong số đó đã được American Express, Citibank và các công ty Mỹ khác mua. Bất luận thế nào, đây cũng không phải là một động thái thân thiện. Vì vậy, hãy ngăn chặn điều này càng sớm càng tốt." Ngôn từ của Khổng Tường Hy vô cùng gay gắt.

Lúc này, cuộc chiến Hiter phát động ở châu Âu đã giúp Trung Quốc.

Tháng 9 năm 1939, Đức Quốc xã tấn công chớp nhoáng Ba Lan. Cùng ngày, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, bảng Anh mất giá và tiền pháp định lại tăng điểm trên thị trường ngoại hối của Thượng Hải. Đến đầu năm 1940, tỷ giá hối đoái của tiền pháp định đã tằng 80% so với bảng Anh và 50% so với đồng đô-la. Ủy ban quỹ bình ổn đã nhân cơ hội này mua lại 4,2 triệu bảng Anh, tương đương 40% lượng tiền đã bán ra trước đó.

Tuy nhiên, mộng đẹp thường không kéo dài. Đến tháng 3 năm 1940, tình hình trở nên tồi tệ hơn. Vào đầu tháng 5, ủy ban quỹ bình ổn một lần nữa ngừng cung cấp ngoại hối không giới hạn cho thị trường ngoại hối Thượng Hải, và đồng tiền pháp định lao dốc so với bảng Anh. Hai tháng sau, Quỹ bình ổn Trung-Anh trị giá 10 triệu bảng chỉ còn lại 2 triệu bảng. Trên thực tế đã không còn phát huy được chức năng bình ổn giá trị pháp lý của đồng tiền pháp định nữa.

Chỉ còn một con đường duy nhất trước mặt chính phủ quốc dân – cầu viện nước Mỹ.

Ngày 14 tháng 5 năm 1940, Tưởng Giới Thạch đã gọi cho Tổng thống Mỹ Roosevelt và xin hỗ trợ: "Hiện tại, tiến triển quân sự của Nhật Bản đang gặp phải khủng hoảng, cuộc chiến bất thình lình đã biến thành một cuộc chiến kinh tế. Cục diện châu Âu ngày càng khó lường, áp lực đối với hệ thống tiền tệ của đất nước ngày càng tăng, khiến vật giá tăng nhanh và tỷ giá hối đoái lao dốc. Nếu quỹ ngoại hối không được bổ sung thì tình hình kinh tế sẽ trở nên sa sút hơn, tác động sẽ lớn hơn và các ngành công nghiệp sẽ hỗn loạn hơn. Nếu như hệ thống tài chính sụp đổ, Nhật Bản với sự giúp sức của các tổ chức bù nhìn chắc chắn sẽ thống trị hệ thống tiền tệ Trung Quốc, lợi ích kinh tế của Trung Quốc chắc chắn sẽ bị hủy hoại… Trong tình thế khẩn cấp này, rất mong quý quốc cho vay tiền mặt để duy trì hệ thống tiền tệ quốc gia."

Mỹ vẫn đang chờ đợi một mức báo giá "ưu đãi hơn", nhưng Tưởng Giới Thạch không thể chờ đợi thêm nữa.

Tháng 6 năm 1940, Tống Tử Văn đã đích thân đến Mỹ để cầu viện. Vào thời điểm này, xã hội Mỹ đang tôn sùng "chủ nghĩa cô lập". Người dân Mỹ cho rằng đất nước đã có hai đại dương bảo vệ, người Nhật hay người Đức chẳng làm gì được họ, tại sao phải đưa tiền cho người Trung Quốc và châu Âu. Bất chấp tầm nhìn dài hạn của Tổng thống Roosevelt, nhưng dưới áp lực của các phiếu phổ thông, ông bắt buộc phải thận trọng trước vấn đề viện trợ cho Trung Quốc. Cho đến khi chính phủ bù nhìn của Uông Tinh Vệ được thành lập, người Đức đương hồi cường thịnh cũng gây áp lực buộc chính phủ Trung Quốc phải thỏa hiệp với Nhật Bản. Lúc này Roosevelt – vốn sợ Trung Quốc chịu không nổi và ngả vào vòng tay Nhật Bản, mới đồng ý cho quỹ bình ổn ngoại hối của Trung Quốc vay tiền.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Morgan, người đã giúp Trung Quốc thành lập quỹ bình ổn
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Morgan, người đã giúp Trung Quốc thành lập quỹ bình ổn

Sau nhiều lần thỏa thuận, Trung Quốc và Mỹ cuối cùng đã đạt được thỏa thuận về quỹ bình ổn và ủy ban quản lý vào tháng 4 năm 1941. Cùng ngày, thỏa thuận mới liên quan đến quỹ bình ổn Trung-Anh cũng được ký kết. Sau đó, ba nước trao đổi giấy tờ và sáp nhập hai quỹ bình ổn. Mỹ đóng góp 50 triệu đô-la, Vương quốc Anh đóng góp 10 triệu bảng (khoản 40 triệu đô-la) và Trung Quốc đóng góp 20 triệu đô-la, tổng cộng 110 triệu đô-la đã tạo nên "Quỹ bình ổn Trung-Mỹ-Anh" hoàn toàn mới.

Ủy ban quỹ mới được thành lập có quyền lực khổng lồ, ngoài các hoạt động thị trường ngoại hối thường nhật và bình ổn tỷ giá hối đoái của tiền pháp định, nó còn có quyền xem xét tất cả các giao dịch thương mại Trung-Mỹ. Bất luận là ai, chỉ cần người đó làm ăn kinh doanh giữa Trung Quốc và Mỹ thì đều phải có giấy chứng nhận được ủy ban quỹ phê duyệt để sử dụng ngoại hối trước khi có thể đặt hàng từ Mỹ sang Trung Quốc. Và tất cả hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ phải cho thấy bằng chứng rằng họ đã bán ngoại hối cho ủy ban quỹ bình ổn, chính phủ Mỹ mới cho phép hàng hóa của họ vào hải quan. Nói cách khác, ủy ban quỹ bình ổn này không chỉ là ngân hàng trung ương thực tế của Trung Quốc, mà còn là cơ quan quản lý ngoại thương tối cao của nước này.

Lòng tham của người Mỹ lớn hơn nhiều so với người Anh.

Tất nhiên là người Mỹ sẽ đóng vai trò chủ đạo trong ủy ban này. Theo thỏa thuận liên quan đến quỹ bình ổn, các thành viên Mỹ phải báo cáo tất cả các quyết định và kế hoạch của ủy ban lên Kho bạc Mỹ bất cứ lúc nào. Ủy ban chỉ có thể sử dụng vốn cho các hoạt động đầu tư hoặc tái cấp vốn với sự chấp thuận của Bộ trưởng Tài chính hoặc Cục Dự trữ Liên bang. Ngoài ra, Ngân hàng Trung Quốc, ngân hàng trung ương và ủy ban quỹ bình ổn phải thường xuyên báo cáo việc sử dụng quỹ cho Kho bạc Mỹ.

Chúng ta hãy xem danh sách các thành viên có quốc tịch Trung Quốc trong Ủy ban quản lý bình ổn Trung-Mỹ-Anh: Trần Quang Phủ, Tập Đức Mậu và Bối Tổ Di. Trần Quang Phủ tốt nghiệp Trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania, là một trụ cột của giới tài phiệt Giang-Chiết. Ngân hàng Thương mại Tiết kiệm Thượng Hải của ông hoạt động theo mô hình chuẩn của ngành ngân hàng phương Tây, ngoài ra ông còn là chủ tịch "Câu lạc bộ Rotary" – một nhóm gồm các nhân vật tinh anh trong giới tài chính Mỹ ở Thượng Hải, là một chủ ngân hàng quốc tế chính cống, ông hoàn toàn đủ vai vế để trở thành chủ nhiệm ủy ban này. Danh tính chính thức của Tập Đức Mậu – con cả của gia tộc nhà họ Tập thuộc phe Động Đình Sơn, là cục trưởng Cục Nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương, nhưng thế lực thực sự mà ông đại diện là "liên quân tám nước" của các ngân hàng nước ngoài. Bối Tổ Di vốn xuất thân từ Hán Trì Bình, một công ty của Thịnh Tuyên Hoài, sau đó gia nhập Ngân hàng Trung Quốc, trở thành tâm phúc của Tống Tử Văn và là đại diện của nhà họ Tống trong quỹ bình ổn.

Từ danh sách thành phần của ủy ban này, có thể thấy rằng đây là một tổ chức nòng cốt dưới sự lãnh đạo của các chủ ngân hàng quốc tế, giai cấp tư sản mại bản và tư sản quan liêu hợp tác mật thiết với nhau để kiểm soát chủ quyền tài chính của Trung Quốc.

Để hỗ trợ tổ chức này, chính phủ Mỹ thậm chí đã quyết định đóng băng tất cả các quỹ tư nhân của Trung Quốc và Nhật Bản tại Mỹ, sau đó Anh và Hà Lan cũng đã lần lượt hưởng ứng, những động thái này ở mức độ nào đó đã làm giảm bớt làn sóng kiếm lời chênh lệch ngoại hối trên thị trường, giảm nhẹ áp lực bán ngoại hối của các quỹ. Bộ trưởng Tài chính Mỹ, Morgenthau, đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò của quỹ bình ổn, nói rằng nó đã giúp chính phủ Trung Quốc tổ chức tài chính và tiến hành một cuộc chiến kinh tế chống lại tiền tệ của chế độ bù nhìn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Jensen thậm chí tin rằng: "Nếu không có khoản vay này, chính phủ Trùng Khánh sẽ sụp đổ."

Tuy nhiên, cả Morgenthau và Jensen đều không biểu đạt một tầng ý nghĩa sâu sắc hơn, đó là quỹ bình ổn thực sự là một thứ hay ho, nhưng sự hay ho của nó là có thể giúp thế lực nước ngoài kiểm soát Trung Quốc tốt hơn và sử dụng nó tốt hơn!

Trích "Chương 7, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét