ĐẶC ĐIỂM QUAN TRỌNG CỦA TIỀN TỆ TỐT
Đối với những
người bình thường, tiền tệ là một thứ gì đó vừa quen thuộc vừa xa lạ. Sự quen
thuộc là bởi vì chúng ta sử dụng tiền hằng ngày, điều xa lạ là mọi người không
hiểu tiền đến từ đâu. Nói một cách đơn giản, tiền là một loại giấy biên nhận của
cải. Tiền chỉ có thể được phát hành nếu dùng của cải làm tài sản thế chấp. Vậy
của cải là gì? Của cải chính là hàng hóa và dịch vụ được tạo ra thông qua quá
trình lao động của con người.
Chúng ta
giao kết quả lao động cho xã hội, xã hội sẽ giao lại cho chúng ta giấy biên nhận
của cải để làm bằng chứng. Lý do tất cả mọi người chấp nhận một biên nhận như vậy
là khi cần, mọi người có thể sử dụng giấy biên nhận này đi ra xã hội để đổi lấy
kết quả lao động của những người khác.
Việc biên
nhận của cải này tạo nên phương thức cơ bản để trao đổi quyền sở hữu của cải
trong xã hội. Do đó, tiền tệ quyết định sự phân phối và dòng chảy của cải trong
xã hội. Nếu bất cứ ai có thể thao túng tiền tệ, người đó sẽ có thể thay đổi quyền
sở hữu của cải mà chẳng ai hay biết. Thao túng giá trị tiền tệ chính là âm thầm
chuyển giao của cải trong xã hội.
Chính vì tiền
tệ là phương tiện cốt lõi để phân phối của cải xã hội, nên nền tảng cốt lõi nhất
của tiền là nguyên tắc đạo đức, nghĩa là tiền tệ sẽ phục vụ cho ai. Trong lý
thuyết tiền tệ phương Tây, họ luôn né tránh câu hỏi về các nguyên tắc đạo đức của
tiền tệ, trong khi đây lại chính là vấn đề khó tránh khỏi nhất của tiền tệ.
Không có
các nguyên tắc đạo đức cho tiền tệ sẽ không có cơ sở để phân phối công bằng của
cải xã hội. Một xã hội thiếu một hệ thống phân phối công bằng chắc chắn sẽ dung
túng cho hành vi trộm cắp hoặc thậm chí cướp bóc của cải. Rất ít người nhận ra
rằng nguyên nhân sâu xa của sự bất công xã hội lan rộng và sự phân chia giàu
nghèo nằm ở nguyên tắc tiền tệ vô đạo đức.
Trên cơ sở các nguyên tắc đạo đức của tiền tệ, bất cứ loại tiền tệ tốt nào cũng phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Toàn vẹn chủ quyền tiền tệ;
- Tín dụng tiền tệ thuận lợi;
- Tính năng sử dụng của tiền tệ mạnh;
- Tính ổn định của tiền tệ tốt;
- Dễ dàng tiếp cận tiền tệ;
- Sự tiếp nhận tiền tệ cao.
Chủ quyền
tiền tệ có nghĩa là một quốc gia hoàn toàn có thể kiểm soát chính sách tiền tệ
của chính mình. Tiền tệ của các quốc gia khác sẽ không thể gây ra những tác động
mang tính quyết định đến nó. Ví dụ, đồng bảng Anh trong thế kỷ XIX và đồng
đô-la trong thế kỷ XX, các quốc gia khác về cơ bản là không thể đụng đến chính
sách tiền tệ của họ.
Tín dụng tiền
tệ có nghĩa là các nhà phát hành tiền tệ không bao giờ nuốt lời và được công
chúng rất mực tin tưởng. Ví dụ tiêu cực là chính sách nới lỏng định lượng đô-la
của Mỹ bị nhiều quốc gia khác nhau chỉ trích, nhưng họ vẫn tự tung tự tác, dùng
hình thức lạm phát đô-la để “chây ỳ” theo kiểu biến tướng. Ngoài ra có thể kể đến
tiền pháp định và Kim viên khoán của Tưởng Giới Thạch, những loại tiền tệ này
không có tín dụng, liên tục lừa đối công chúng, dẫn đến kết cục bị bỏ rơi hoàn
toàn.
Tính sử dụng
của tiền tệ được thể hiện qua khả năng mua hàng hóa có nhu cầu. Cho dù giá trị
của một loại tiền tệ cao đến đâu, nó sẽ không có tính sử dụng nếu không thể mua
những gì mà chúng ta cần. Nếu một người tiêu dùng cần mua dầu, anh ta có thể
mua nó bằng đô-la nhưng dùng đồng yên thì không được. Khi mua hàng hóa, tiền tệ
càng ít hạn chế thì tính sử dụng của nó càng mạnh.
Tính ổn định
của tiền tệ có nghĩa là sức mua của đồng tiền đó có thể được bảo đảm giá trị.
Ví dụ, đồng bàng Anh và đồng đô-la trong kỷ nguyên bản vị vàng đều có thể duy
trì sức mua cơ bản ổn định trong hàng trăm năm. 1 bảng Anh vào năm 1664 có thể
mua cùng một lượng thịt bò sau 250 năm, và 1 đô-la của năm 1800, đến năm 1939,
về cơ bản có thể mua cùng một lượng bánh mì, đó là một tiêu chí tốt về sức mua ổn
định. Năm 1971, đồng đô-la tách ra khỏi mối liên kết với vàng. Sau 39 năm, sức
mua của nó đã thu hẹp rất nhiều và 1 đô-la giờ đây mất khoảng 90% sức mua.
Dễ dàng tiếp
cận tiền tệ cũng là yếu tố rất quan trọng. nếu không có đủ cơ sở hạ tầng tài
chính, chi phí để nhận được tiền tệ sẽ tương đối đắt đỏ và mất tương đối nhiều
thời gian. Nếu chúng ta đi du lịch nước ngoài cần lấy nhân dân tệ thì chắc chắn
sẽ rất khó khăn, vì không phải tất cả các ngân hàng đều lưu trữ nhân dân tệ. Nếu
nhất quyết muốn có thì thời gian và chi phí sẽ cực kỳ kinh khủng.
Sự tiếp nhận
tiền tệ thực chất là diện tích lưu thông của tiền tệ lớn như thế nào và dân số
sẵn sàng chấp nhận nó rộng đến mức nào. Cầm trên tay đồng nhân dân tệ không phải
là một vấn đề lớn ở Hồng Kông, mang tới khu vực Đông Nam Á vẫn có thể miễn cưỡng
sử dụng, nhưng nếu mang tới những nơi khác thì chỉ e sẽ rất khó khăn. Điều này
thậm chí còn đúng hơn trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Hoán đổi tiền tệ là một
biện pháp tốt, nhưng chặng đường phía trước vẫn còn rất dài.
Nếu nhân
dân tệ trở thành đồng tiền thế giới, Trung Quốc cần thực hiện nghiêm túc các vấn
đề trên. Chắc chắn, khoảng cách vẫn còn rất lớn. Ngoài khoảng cách lớn giữa sức
mạnh của nhân dân tệ và tiền tệ quốc tế, một yếu tố quan trọng khác là tiền tệ
của Trung Quốc rất thiếu tâm thế để biến nhân dân tệ trở thành một loại tiền tệ
quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong quá trình giao tranh trên chiến trường tỷ
giá hối đoái giữa Trung Quốc và Mỹ.
Nhận xét
Đăng nhận xét