VINH QUANG VÀ GIẤC MỘNG CỦA BẠC - phần 9

"KHÁM PHÁ VỀ GIÁ" PHÁT HIỆN RA ĐIỀU GÌ?

Bất luận từ tỷ giá vàng – bạc trong lịch sử, mối quan hệ giữa cung và cầu thị trường, hoặc lạm phát, đều không thể giải thích tại sao giá bạc ở mức 20 đô-la mỗi ounce ngày nay thấp hơn nhiều so với mức 50 đô-la năm 1980! Loại sức mạnh nào có thể làm biến dạng giá bạc nghiêm trọng đến mức này?

Trong một thời gian dài, do mối quan hệ tiền tệ tự nhiên giữa vàng và bạc, tý giá giữa chúng được giữ ở mức siêu ổn định trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Mối liên hệ vững chắc này từ lâu cũng khắc sâu trong ký ức của các nền văn minh. Nó vượt qua thời gian, không gian, tôn giáo, địa lý và ý thức hệ. Nó bền chặt hơn nhiều so với "đồng đô-la mạnh" nhân tạo của các chủ ngân hàng quốc tế. Mọi người đều biết, bạc là loại tiền tệ với chất lượng cao nhất, và được phân phối rộng rãi hơn vàng. Bởi lẽ việc ăn-mặc-ở hằng ngày đa phần là các giao dịch nhỏ, trong khi vàng thường chỉ liên quan đến những giao dịch rất lớn. Do đó, bạc không chỉ là tiền thật mà còn có tính thành khoản cao hơn vàng.

Để bảo vệ lợi ích to lớn của việc phát hành đồng đô-la, các chủ ngân hàng phải thoát khỏi sự trói buộc của các loại tiền vàng – bạc và phải xóa bỏ chúng. Nếu muốn xóa bỏ vàng và bạc, trước tiên bạn phải xóa bỏ bạc, vì bạc liên quan chặt chẽ với cuộc sống hằng ngày của người dân. Chỉ khi khiến cho chúng ta không thể tìm thấy bạc trong cuộc sống hằng ngày, không thể sử dụng bạc khi mua nhu yếu phẩm nữa thì mới khiến họ hoàn toàn lãng quên chức năng tiền tệ của bạc. Do đó, chiến lược của các chủ ngân hàng quốc tế là: muốn chinh phục tiền tệ, trước tiên phải chinh phục vàng, để chinh phục vàng, trước tiên phải chinh phục bạc!

Ngày nay, mặc dù đồng đô-la đã chiếm đoạt "ngai vàng tiền tệ" như Mỹ hằng mong đợi, nhưng xét cho cùng vị "ngụy hoàng đế" này vẫn chỉ là "giả" mà thôi. Các chủ ngân hàng quốc tế vẫn luôn thấp thỏm không yên, bởi lẽ một khi gió thổi cây lay, dân tình sẽ lập tức nghĩ đến vàng và bạc. Các chủ ngân hàng quốc tế luôn giữ một tâm thế "vừa căm hận, vừa sợ hãi" đối với vàng và bạc. Tâm lý này của họ giống với việc Vương Mãng soán ngôi trong lịch sử Trung Quốc, khi ông ta chỉ muốn giết sạch tất cả những người họ Lưu trong thiên hạ. Bạc giống như thái tử Lưu Tú đang bị đuổi cùng giết tận bởi "Vương Mãng trong giới ngân hàng", đến nay đã được 50 năm rồi. Sự "truy sát" này chính là đàn áp về mặt giá cả. Các chủ ngân hàng quốc tế hi vọng rằng chúng ta đều coi bạc như một kim loại thông thường, một nguyên liệu công nghiệp nói chung. Bởi vì chúng ta vẫn không thể quên rằng, suốt hàng ngàn năm nay bạc luôn được coi là "vua của các loại tiền tệ" giống như vàng. Thế nên các chủ ngân hàng quốc tế trước tiên đã trục xuất bạc ra khỏi cung điện tiền tệ - ngân hàng trung ương, sau đó cố tình ép giá bạc xuống thật thấp, giáng nó thành "thường dân" cùng với đồng, sắt, chì, kẽm… lang bạt kỳ hồ nơi đầu đường ngõ phố như một loại hàng hóa phổ thông.

Thị trường bạc là một địa bàn nhỏ hơn nhiều so với thị trường vàng, họ đã sử dụng phương pháp "bán khống vô căn cứ"(67) với quy mô lớn để hạ giá bạc. Đồng thời sử dụng sợi thừng mang tên "bạc giá rẻ" để kìm giữ con ngựa hoang "tăng giá vàng", đây thực sự là một chiến lược kiểm soát giá mang lại hiệu quả cao. Chỉ cần đàn áp được giá bạc thì có thể khiến cho ván bài tài chính toàn cầu – với cốt lõi là tiền giấy đô-la, có thể tạo ra lợi nhuận khổng lồ và vĩnh cửu cho các chủ ngân hàng quốc tế!

Chú thích:

(67) Bán khống vô căn cứ (Naked short sale) là việc bán khống tài sản tài chính (chẳng hạn chứng khoán) nhưng không hề có ý định vay mượn chứng khoán hoặc tìm nguồn chứng khoán để đảm bảo sẽ thanh toán chứng khoán đúng thời hạn của hợp đồng bán khống.

Từ năm 1990 đến 2003, giá bạc từ gần 50 đô-la/ounce năm 1980 bị triệt tiêu chỉ còn 4 – 5 đô-la/ounce. Ngay khi bạc ở mức tồi tệ nhất, một số ngươi có cái nhìn sâu sắc đã thấy cơ hội đầu tư từ sự mất giá nghiêm trọng của bạc. Quỹ đầu tư do nhân vật nổi tiếng, Buffett, quản lý, mua gần 130 triệu ounce bạc theo đợt trong giai đoạn 1997-1998, chiếm ¼ sản lượng bạc hằng năm của thế giới vào thời điểm đó, về cơ bản là kiểm soát được lượng bạc tích lũy suốt mấy chục năm. Điều khó hiểu là tại sao Buffett lại nhanh chóng bán hết bạc vào năm 2006. Giá mua trung bình của ông là 6 đô-la/ounce và giá bán chỉ là 7,5 đô-la. Bản thân Buffett cũng thừa nhận rằng thương vụ này không được ổn thỏa cho lắm. "Tôi đã mua sớm và bán cũng sớm. Đây là sai lầm của tôi. Đầu cơ đến cuối cùng mới là điều điên rồ nhất." Một sự trùng hợp cực kỳ ngẫu nhiên là không lâu sau khi Buffett bán hết số bạc, Quỹ Giao dịch Bạc (ETF) đầu tiên do Ngân hàng Barclays thiết lập cũng đã nhận được giấy phép khai trương trên thị trường chứng khoán Mỹ năm 2006. Có tin đồn rằng Ngân hàng Barclays đã "mượn" hoặc mua 130 triệu ounce bạc từ Buffett để làm tài sản đảm bảo cho nghiệp vụ giao dịch bạc của quỹ, đó chính xác là tổng số bạc đang nằm trong tay Buffett. Năm 2006, khi thị trường bạc bắt đầu khởi động, Buffett đã bán hết số bạc. Ông đặt cược lớn như vậy, nhưng không vội vã đầu cơ giá bạc như anh em Hunter làm năm xưa, âm thầm chờ đợi thời cơ suốt 9 năm chỉ để kiếm vỏn vẹn 1,5 đô-la/ounce hay sao? Thương vụ mua bán này hết sức đáng ngờ. Rốt cuộc Barclays và Buffett đã âm thầm giao dịch ra sao, thế giới bên ngoài tuyệt nhiên không hề hay biết.

Một nhân vật khác cũng sở hữu khả năng phán đoán hết sức nhạy bén và có ảnh hưởng sâu sắc đối với thị trường bạc là Ted Butler. Butler là một nhà giao dịch hợp đồng tương lai (futures contract) từ năm 1971, làm việc cho Merrill Lynch. Vào giữa những năm 1980, một khách hàng đã hỏi ông: "Thị trường bạc đang bị thiếu hụt nguồn cung, nhưng giá bạc không tăng suốt vài năm qua. Lý do là gì?"

Để giải thích nguyên nhân cho khách hàng, Butler bắt đầu nghiên cứu thị trường hợp đồng tương lai của bạc. Nhưng chính ông cũng cảm thấy hết sức khó hiểu. Ông biết rằng bạc đang bị thiếu hụt, nhưng không thể giải thích tại sao giá bạc không tăng. Sau nay, dựa trên nhiều năm kinh nghiệm trên thị trường giao dịch hợp đồng tương lai, Butler nhận thấy rằng lượng bạc bán khống trên thị trường luôn lớn hơn nhiều so với nguồn cung bạc sẵn có. Hóa ra, có một tổ chức nào đó đang ngấm ngầm làm giảm giá bạc, vì vậy ông đã báo cáo hiện tượng thao túng thị trường cho Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ (CFTC). Tuy nhiên, các bộ phận liên quan trả lời rằng không có vấn đề gì và bỏ ngoài tai kiến nghị của ông. Butler là một gã bướng bỉnh, phàm là những chuyện đã lộ rõ thì ông sẽ kiên quyết làm cho ra nhẽ. Butler liên tục báo với các ban ngành liên quan nhưng không có kết quả. Sau đó, nhờ có Internet, từ năm 1996, Butler bắt đầu phơi bày sự thật về tình trạng giá bạc thấp giả tạo thông qua Internet. Ông đăng tải trực tuyến những phân tích chi tiết hoặc nhận xét về thị trường bạc gần như mỗi tuần.

Với nhiều năm nghiên cứu và những bình luận liên tục về thị trường bạc, Butler dần trở thành một nhân sĩ có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực này. Ông tin rằng sự thao túng thị trường bạc là âm mưu "tệ hại nhất từ trước đến nay" của thế giới tư bản. Ngoài việc tiếp tục gửi thư nhiều lần cho Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ, ông cũng kêu gọi các nhà đầu tư cùng liên kết chống lại tình trạng thao túng thị trường bạc. Sau nhiều năm nỗ lực, hành vi thao túng của một số ngân hàng đầu sỏ trong việc đàn áp trái phép thị trường bạc (bao gồm cả vàng) đang ngày càng bị phơi bày, thu hút sự chú ý rất lớn trên toàn thế giới.

Trong những năm gần đây, Ủy ban Giao dịch Hàng hoa Tương lai Mỹ cuối cùng đã mở một cuộc điều tra về hành vi thao túng bạc. Đồng thời, các cơ quan quản lý tài chính ở Anh và Đức cũng bắt đầu thu thập được bằng chứng chuyên sâu về hành vi thao túng giá vàng.

Liên quan đến cuộc điều tra của Ủy ban Giao dịch Hàng hoa Tương lai Mỹ, Butler tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn độc quyền rằng, mặc dù các bên liên quan sẵn sàng giải quyết vấn đề, thế nhưng vấn đề thao túng thị trường bạc quá lớn nên sẽ rất khó để tìm ra một giải pháp không gây ra sự rối loạn lớn trên thế giới.

Trong suốt 20 năm, những người tham gia vào thị trường kim loại quý trên khắp thế giới từ lâu đã hết sức mệt mỏi đối với màn tố tụng pháp lý và tranh luận công khai về hành vi thao túng giá vàng và bạc. Vào ngày 14 tháng 4 năm 2004, gia tộc Rothschild – những người đang thống trị thị trường vàng thế giới suốt 200 năm qua bất ngờ từ bỏ quyền định giá thị trường vàng. Thật trùng hợp, người anh cả của thị trường bạc – AIG (Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế Mỹ) cũng tự nguyện từ bỏ quyền định giá của thị trường bạc vào ngày 1/6. Gia tộc Rothschild thực sự không còn coi trọng vàng nữa sao? Nếu vậy, tại sao họ lại không từ bỏ cuộc chơi vào năm 1999 – khi giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử, mà lại "rửa tay gác kiếm" vào năm 2004, khi giá vàng và bạc đang tăng như vũ bão? Một khả năng khác là giá vàng và bạc cuối cùng sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát… Sở dĩ họ mau chóng cắt đứt mối quan hệ với vàng và bạc vì đợi đến 10 năm sau, khi giá vàng bạc xảy ra vấn đề lớn thì không ai có thể đổ lỗi cho gia tộc Rothschild nữa. Giờ đây, giá vàng bạc đã thực sự "xảy ra vấn đề lớn", liên tục lập kỷ lục mới trong lịch sử, còn giá bạc cũng vượt mốc cao nhất trong 30 năm, có thời điểm lên tới hơn 25 đô-la/ounce. So với trước kia, giá vàng và bạc đã tăng gần 3 lần!

Đúng vậy, người anh cả của thị trường bạc – AIG là công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới được chính phủ Mỹ giải cứu trong trận "Sóng thần tài chính" năm 2008. Sau AIG ngã ngựa, kẻ thao túng chính trong thị trường bạc là Bear Stearns. Vào ngày Bear Stearns sụp đổ, tức ngày 17 tháng 3 năm 2008, bạc đạt mức giá cao nhất kể từ năm 1980 – 21 đô-la/ounce.

Thành lập vào năm 1923, Bear Stearns là ngân hàng đầu tư lớn thứ năm trên Phố Wall và là một trong những công ty kinh doanh chứng khoán chủ đạo ở Mỹ. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, ngân hàng đầu tư gạo cội với 85 năm tuổi đời, từng trải qua cuộc Đại suy thoái và bao thăng trầm kinh tế ở Mỹ trong những năm 1930 bất ngờ tuyên bố thiếu tiền mặt nghiêm trọng. Cùng ngày, Cục Dữ trữ Liên bang và JP Morgan Chase đã cung cấp khoản hỗ trợ tài chính khẩn cấp cho Bear Stearns. Nhiều người chỉ biết là Bear Stearns bị mua lại vì thua lỗ nghiêm trọng trong cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn của Mỹ và sắp phá sản. Nhưng ít ai biết rằng họ cũng là một trong những thế lực bán khống bạc lớn nhất trong thị trường háng hóa tương lai của Mỹ. Do bán khống bạc và chịu đòn công kích từ nhiều phía nên cuối cùng họ rơi vào thảm cảnh này.

Ngày 14 tháng 3 năm 2008, sau gần một tháng tăng giá, bạc tăng vọt từ 17 đô-la lên gần 21 đô-la/ounce. Bear Stearns không thể gắng gượng thêm trước tình cảnh thiếu tiền, đó có lẽ là một lý do quan trọng khác dẫn tới thông báo đột ngột về tình trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng. Điều này không chỉ khiến cho lượng vốn bán khống bạc của họ bị cạn sạch, mà còn có thể khiến giá bạc vượt khỏi tầm kiểm soát, tiếp theo là giá vàng tăng mạnh và đồng đô-la giảm mạnh. Cục Dữ trữ Liên bang thấy tình hình bất lợi bèn lập tức ra tay cứu trợ. Bear Stearns nhận được khoản vay với kỳ hạn 28 ngày, Cục Dữ trữ Liên bang cho Bear Stearns vay thông qua JP Morgan Chase, nhưng rủi ro cho vay thì do Cục Dữ trữ Liên bang gánh chịu. Đây cũng là lần đầu tiên Cục Dữ trữ Liên bang cho mượn theo cách này kể từ cuộc Đại Khủng hoảng những năm 1930. Mặc dù nhận được các khoản vay ngắn hạn, Bear Stearns vẫn không thể gượng dậy và không tránh khỏi kết cục bị phá sản hoàn toàn. Ngày 16 tháng 3 năm 2008, sau khi Cục Dữ trữ Liên bang thực hiện một động thái khẩn cấp và đồng ý khoản vay 30 tỷ đô-la "trọn gói" để hỗ trợ JP Morgan Chase, JP Morgan Chase tuyên bố mua lại Bear Stearns, qua đó giải cứu cuộc khủng hoảng giá bạc nghiêm trọng.

Vừa mua lại Bear Stearns, JP Morgan Chase ngay lập tức bắt đầu một đợt đàn áp giá bạc mới. Từ ngày 18 tháng 3, tức ngày thứ hai sau thương vụ mua lại Bear Stearns, giá bạc bắt đầu đột ngột lao dốc. Đến ngày 20 tháng 3, chỉ trong ba ngày, giá bạc giảm từ 21 đô-la/ounce xuống còn 17,5 đô-la/ounce. Vậy là mức tăng giá bạc suốt một tháng đã không còn. Kể từ đó, JP Morgan Chase và Ngân hàng Hội Phong (HSBC) tiếp tục "truy sát" bạc. Đến tháng 8 năm 2008, cả hai nắm giữ tổng cộng 85% vị thế(68) đầu cơ ròng của bạc. Thị trường bạc nhất loạt giảm giá dưới những nỗ lực chung của hai ngân hàng này, ngày 13 tháng 8 bạc tụt xuống ngưỡng 13 đô-la. Từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 12, nó giảm xuống còn khoảng 9 đô-la/ounce và trở về mức giá năm 2006.

Chú thích:

(68)Trong tài chính, một vị thế là số tiền của một chứng khoán, hàng hóa hoặc tiền tệ cụ thể được nắm giữ hoặc sở hữu bởi một người hoặc tổ chức.

Tất cả điều này không thể thoát khỏi con mắt của Butler – một chuyên gia phân tích thị trường bạc. Tại sao có một tình huống mà các ngân hàng đã tăng đáng kể các vị thế bán khống bạc của họ? Butler nhiều lần đặt câu hỏi cho Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ và các thành viên của Quốc hội về vấn đề này. Cuối cùng, ông nhận được lời giải thích: Vì JP Morgan đã tiếp quản Bear Stearns. Trước đó, Butler và tất cả các nhà đầu tư bạc không thể tìm ra ai là thế lực bán khống lớn nhất trên thị trường bạc, bởi vì trong báo cáo của Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai không tiết lộ danh tính của các nhà giao dịch. Báo cáo phân tích thị trường của Butler luôn được mô tả bằng cách không chỉ đích danh. Cho đến lúc đó, Butler mới chợt nhận ra rằng chính Bear Stearns và JP Morgan là hai thế lực chính đã đàn áp giá bạc. Butler tiết lộ nội tình này ra bên ngoài, gây ra phản ứng mạnh mẽ từ thị trường và làm dấy lên sự phẫn nộ của đông đảo các nhà đầu tư bạc. Điều đó dẫn đến cuộc điều tra của Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ với JP Morgan Chase, và nhiều nhà đầu tư đã đệ đơn khởi kiện nhằm chống lại sự thao túng bất hợp pháp thị trường bạc của JP Morgan Chase và HSBC.

Trước sức ép ngày càng tăng của các nhà đầu tư, đến tháng 9 năm 2010, JP Morgan Chase tuyên bố ngừng các nghiệp vụ kinh doanh tự chủ, để đáp ứng các yêu cầu của đạo luật giám sát tài chính mới của Mỹ mang tên "Đạo luật cải cách và bảo vệ người tiêu dùng phố Wall". Khoảng 20 giao dịch viên hàng hóa tương lai tại London bị sa thải. Kết quả là, thị trường bạc ngay lập tức tăng giá vượt mốc 21 đô-la/ounce và phá vỡ kỷ lục khi Bear Stearns sụp đổ ngày 17 tháng 3 năm 2008. Kể từ năm 1980, giá bạc hai lần lập kỷ lục cao nhất, và đều có liên quan đến những rắc rối lớn của thế lực thao túng chính thị trường bạc. Lẽ nào lịch sử thực sự chứa đầy những sự trùng hợp thú vị?

Điều đáng chú ý là rất nhiều sự biến lớn trên thị trường bạc đều bắt nguồn từ London, ví dụ như AIG và JP Morgan cũng vậy. Điều này chủ yếu là để tránh những rắc rối của các cơ cấu giám sát quản lý của Mỹ.

Việc thao túng giá bạc nổi tiếng nhất có thể kể đến thất bại kinh hoàng những năm 1970 của "đại phú hào" Mỹ - Hunt Brothers trong việc tích trữ bạc. Thông qua điển phạm này, sách báo dạy mọi người rằng việc giám sát quản lý thị trường thực sự sẽ có hiệu lực, và việc thao túng thị trường hàng hóa tương lai đã chấm dứt mãi mãi. Bất cứ ai muốn thao túng giá bạc một lần nữa thì hãy nhìn Hunt Brothers mà làm gương.

Trên thực tế, việc thao túng giá bạc không chỉ giới hạn trong hành vi nâng giá của việc tích trữ bạc, mà còn bao gồm cả hiệu ứng triệt tiêu giá bạc bắt nguồn từ việc "bán khống vô căn cứ" trên quy mô lớn. Tuy nhiên, đối với hành vi bán khống vô căn cứ này, Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ xưa nay chưa từng nghiêm túc điều tra. Nói cách khác, "chính phủ có thể đốt lửa, nhưng dân đen thì không được phép thắp đèn". Đầu cơ để bán khống (vị thế ngắn hạn) bạc thì được coi là "hợp lý", nhưng đầu cơ chờ tăng giá (vị thế dài hạn) bạc thì chắc chắn bị "sờ gáy".

Tương tự với trường hợp của vàng, quyền định giá của thị trường bạc thế giới luôn nằm trong tay của trục lợi ích Phố Wall – London. Thị trường hàng hóa tương lai New York chịu trách nhiệm định giá "bạc trên giấy", trong khi đó Hiệp hội Thị trường Vàng Bạc London (LBMA) sẽ quyết định giá "bạc thực tế". Dưới sự hợp tác của hai tổ chức này, giá bạc lúc nào cũng trong tình trạng "đầu bù tóc rối" khi phải đối mặt với lạm phát. Như vậy, cái được gọi là thuộc tính tiền tệ của bạc trông chẳng khác gì một trò đùa. Ngay cả các kim loại phổ biến nhất cũng có thể đối phó với lạm phát một cách hiệu quả, còn bạc thì thậm chí chẳng có cả khả năng này, huống chi là thuộc tính tiền tệ? Bạc đã bị "phù phép" triệt để và biến thành một loại kim loại công nghiệp thông thường. Xin lưu ý rằng trong suy nghĩ của hầu hết chúng ta, kim loại công nghiệp và kim loại thông thường gần như là giống nhau.

Đây là lý do tại sao những người bình thường sẽ cảm thấy kỳ lạ khi nghe về việc đầu tư bạc! Các chủ ngân hàng quốc tế khéo léo tạo ra điểm yếu dài hạn về giá bạc và tận dụng triệt để hiệu ứng tâm lý này để che đậy bản chất tiền tệ của bạc, từ đó khiến cho ván bài của hệ thống đồng đô-la trở nên lớn hơn và thú vị hơn.

Để triệt tiêu giá bạc một cách hữu hiệu trong nhiều thập kỷ không phải là việc dễ dàng. Quy luật kinh tế học về việc mối quan hệ cung cầu sẽ quyết định giá cả cũng giống như ba định luật vật lý của Newton. Đó là một định luật thép không thể lung lay. Nhu cầu công nghiệp là một vấn đề rõ ràng và rất khó có cơ hội để thao túng hoặc đầu cơ. Do đó, cách duy nhất để giảm giá bạc là tăng nguồn cung một cách giả tạo. Giảm giá bạc có thể hạn chế hiệu quả nhu cầu đầu tư bạc, và trong môi trường sinh thái kinh tế thế giới đang đối mặt với lạm phát ngày càng gia tăng thì nhu cầu đầu tư đầy tiềm năng của bạc (nhờ thuộc tính tiền tệ của nó) mới là vấn đề tiêu điểm của mối quan hệ cung cầu bạc trong tương lai. Nếu nguồn cung bạc (vật chất) khổng đủ, vậy chỉ cần tạo ra một nguồn cung "bạc trên giấy" đáng kinh ngạc là cũng có thể đạt được hiệu quả "cung vượt cầu" lý tưởng. Trục lợi ích Phố Wall – London đã tiến hành thao túng giá bạc dựa trên lối tư duy này.

Trích "Chương 10, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

  • Đang cập nhật

Nhận xét